Tầm vóc của bài toán- Thơ Văn dự thi mã số 132 với chủ đề “Người Hải Phòng”

Truyện ngắn dự thi mã số 132 của tác giả: Vũ Hoàng Lâm- Hải Phòng

TẦM VÓC CỦA BÀI TOÁN

Trên ba mươi công trình khoa học có tầm cỡ về lĩnh vực “Các mặt cực tiểu và bài toán Platô” đã đưa tác giả Đào Trọng Thi vào danh sách “Một nghìn nhà toán học xuất sắc của thế kỷ”, tên tuổi Đào Trọng Thi đã được đưa vào cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư toán học xuất bản ở Liên Xô, một vinh dự tự hào của nền toán học Việt Nam. Với những công trình này, Đào Trọng Thi được coi là người mở đường cho công cuộc khai phá, xây dựng một lý thuyết mới mẻ của toán học hiện đại.

Đào Trọng Thi người làng Cổ Am, quê hương của nhà văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông sinh năm 1951 trong một gia đình có truyền thống Nho học. Dòng họ nhà ông nhiều người đỗ đạt, làm quan đến chức đại phu. Người anh ruột của thân sinh Đào Trọng Thi là ông Đào Trọng Kì, nổi tiếng hay chữ, làm quan Thượng thư, một trong các đại thần triều đình nhà Nguyễn, khi về hưu đã đứng ra điều động dân đinh phủ Vĩnh Bảo đào con sông Thái Bình về tưới cho hàng trăm ngàn mẫu ruộng bao đời bị hạn và chua mặn của thuỷ triều. Con sông ấy ngày nay vẫn chảy hiền hoà giữa những thôn làng trù phú, ghi nhận công lao dẫn thuỷ nhập điền của cụ Đào Trọng Kì, vì chỉ có cụ mới quần tụ được toàn phủ đào sông. Dòng họ Đào Trọng còn nhiều người nổi tiếng hay chữ: Cụ Đào Trọng Kình có tên trong bộ ba nổi tiếng của Bắc Hà, cụ Đào Trọng Kì có tên trong Tứ Hổ Hải Dương. Đến đời ông nội, cụ Đào Trọng Lan, thời buổi nhiễu nhương, được học chữ nho nhưng không có chí hướng làm quan dưới sự cai trị của người Pháp, cụ đi khắp các tỉnh vừa dạy học vừa làm thuốc, nhưng lúc nào cụ cũng hướng về quê hương. Người con trai thứ hai, Đào Trọng Vy sống với mẹ ở quê nhà. Ông Đào Trọng Vy được học trường Kĩ nghệ Hải Phòng, ra làm thư kí kế toán ở Sở mỏ Uông Bí, sớm tham gia phong trào yêu nước, hội Truyền bá Quốc ngữ. Ngày kháng chiến bùng nổ, ông tham gia Ban Tài chính kháng chiến tỉnh Hải Dương, sau đó chuyển lên khu Việt Bắc hoạt động trong ngành Thương nghiệp của Chính phủ kháng chiến.

Tuổi thơ của cậu bé Thi hoà vào tuổi đi học của hàng triệu trẻ em cùng lứa tuổi sau ngày hoà bình lập lại. Các trường học mọc lên khắp nơi để có thể đón nhận tất cả trẻ em đến tuổi tới trường. Cậu bắt đầu vào lớp 1 tại trường Tiểu học Vạn Phúc khu Ba Đình. Cậu học giỏi toàn diện. Mỗi khi có tổ chức thi chọn học sinh giỏi, cậu thường được cử tham gian hai môn Văn, Toán. Nhưng khi hai môn thi cùng buổi, cậu mới chọn môn Toán. Vào lớp 5 (lớp 6 bây giờ), Thi chuyển về học tại Trường cấp 2 Tây Sơn. Trong kì thi chọn học sinh giỏi cuối năm học đó, Đào Trọng Thi đoạt giải Nhất toàn thành phố Hà Nội. Từ đó cậu chuyên tâm theo các buổi bồi dưỡng về Toán. Những bài toán khôi phục số, về cách tính nhanh, về chuyển động, về khai phương đã mở ra trong Thi một không gian kì ảo, hấp dẫn chẳng kém gì không gian của truyện cổ tích. Thật thiệt thòi cho Thi cũng như bao trẻ cùng lứa tuổi, trong khi chuẩn bị cho kì thi chọn học sinh giỏi lớp 7, thì phải sơ tán khỏi Hà Nội. Gia đình đưa Thi sang Hưng Yên sống với anh cả Đào Trọng Nhiễm lúc này là kĩ sư Ty Thuỷ lợi của tỉnh. Trường cấp hai thị xã biết có học sinh giỏi ở Hà Nội về liền cho các em thử làm bài của kì thi sơ khảo học sinh giỏi thị xã. Thi làm bài không hoàn chỉnh. Vài thầy giáo ở đây nhận xét: Hoá ra học sinh Hà Nội xoàng hơn học sinh quê mình. Cậu buồn chán bỏ về Hà Nội với trường cũ, thổ lộ với cô Vân – chủ nhiệm lớp 7, dạy toán, về chuyện không vui ở Hưng Yên. Cô Vân động viên:

-Em đừng buồn vì không giải được bài toán đó. Các bạn ở Hưng Yên đã được luyện các dạng bài toán khác với các loại bài toán em được trang bị. Nếu em được học qua, em sẽ giải được.

-Thưa cô, thế có phương pháp nào giúp ta giải đử các loại toán không ạ?

-Em ạ, chưa ai đưa ra được phương pháp giải đủ các loại toán đâu. Nhưng lí thuyết nào có “sức khái quát càng lớn” thì nó càng được áp dụng rộng rãi, song cái đó còn tuỳ thuộc vào khả năng sử dụng của người học.

“Sức khái quát càng lớn”, khái niệm đó hiện ra như rừng cây trước mắt cậu bé mười bốn tuổi, mà cậu chắc rằng đó còn ẩn giấu nhiều kì lạ. Cậu mong lên cấp ba lại được dự các buổi ngoại khoá Toán cho học sinh giỏi ở Trường. Song ước mơ đó đã chia tay với cậu. Vào lớp 8 (lớp 10 bây giờ), Thi phải sơ tán theo cơ quan của bố. Cậu đuwọc nhận vào trường cấp ba huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là một môi trường mới mở, các cô giáo, thầy giáo hầu hết vừa tốt nghiệp, giảng dạy say mê, nhiệt tình, nhưng còn ít kinh nghiệm. Thầy Lâm dạy Toán rất quý Thi, vì năng lực toán của cậu được bộc lộ ở những câu hỏi độc đáo, tuy thật đơn giản, nhưng từ thời đi học thầy cũng không để ý tới. Thi không có thói quen ghi lời giải vào vở, vì cậu thấy nó quá đơn giản. Mỗi khi thầy giáo kiểm tra vở bài làm của học sinh, Thi liên xung phong lên bảng, thầy yêu cầu giải bài toán nào, cậu cũng giải được ngay.

Vào cuối năm học 1965-1966, khi Thi đã kết thúc lớp 8 ở cấp ba Yên Lạc, thì được nhà trường thông báo tham gia kì thi tuyển chọn học sinh vào lớp 9 Toán đặc biệt của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cậu bị ám ảnh bởi vốn toán ít ỏi của một học sinh phổ thông ở tỉnh lẻ, nhưng cậu vẫn tin mình sẽ giải được bài nhờ ở các mạch kiến thức cậu đọc được trên tạp chí Toán học và Tuổi trẻ. Bài đại số là một tam thức bậc hai có chứa tham số. Chỉ có phần lập hệ thức giữa các tham số, cậu không làm được, và ở bài hình học, cậu chịu gác bút ở câu chứng minh tính đồng quy của ba đường thẳng. Nhưng kết quả đúng như dự đoán. Đào Trọng Thi đã trúng tuyển vào lớp Toán đặc biệt Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cậu giã từ mảnh đất Yên Lạc, trở về Hà Nội. Nhà trường tập trung 63 học sinh tại khu trường chính số 19 Lê Thánh Tông. Rồi vào buổi tối trời mưa nhẹ, cả lớp hăm hở lên tài đi đến ga Quán Triều, tiếp đó, lúc đi xe, lúc cuốc bộ, đi suốt đêm đến địa điểm sơ tán của trường ở Văn Yên, Đại Từ, Bắc Thái.

Những ngày đầu bỡ ngỡ, Thi có phần hoang mang, bởi vốn kiến thức còn thiếu hụt so với các bạn. Người ta thấy thỉnh thoảng cậu vắng mặt trong các buổi học ở nhà. Hay là Thi nản chí rồi. Nhưng có phép lạ gì mà chỉ mấy tuần sau Thi đã nắm được bài một cách vững vàng, lại có thể giảng kiĩ thêm điều thầy giáo nói chưa hết ở trên lớp. Lúc đó các bạn trong lớp mới phát hiện ra Thi vào thư viện. Tại đây cậu đã tìm được rất nhiều sách Toán viết bằng tiếng Nga mà ít bạn cùng lớp đọc được. Chẳng những Thi đọc cho mình, cậu còn dịch các đề toán hiểm hóc để các bạn trong lớp cùng giải. Mọi người nhìn Thi với đôi mắt cảm phục, mệnh danh cậu là cây Nga văn của lớp, là “thủ kho” các bài toán khó của lớp. Cứ từng bước như vậy, cậu vươn lên từng bước. Bài giảng của GS. Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuy, Phan Đức Chính mở ra những không gian ngày càng cụ thể mà Thi tin rằng mình có thể chiếm lĩnh được những không gian đó.

Đến lớp 10, Thi đã thuộc hàng giỏi nhất lớp, đã đoạt giải trong kì thi chọn học sinh giỏi Toán toàn miền Bắc. Tốt nghiệp phổ thông loại giỏi, Đào Trọng Thi được cử sang Liên Xô học tập.

Đoàn học sinh Việt Nam học tiếng Nga một năm tại thành phố Minxcơ để chuẩn bị vào học ở các trường Đại học Xô Viết, trong số này, vài người xuất sắc nhất sẽ được lựa chọn vào học ở Đại học Lômônôxôp. Đại học Lômônôxôp, một trong những trung tâm văn hoá khoa học lớn nhất thế giới, toà lâu đài huyền thoại trên đồi Lênin từ lâu là niềm mơ ước của Thi và các bạn. Cậu quyết tâm phấn đấu để gihàn cơ hội được vào học ở đây. Những năm trước, do việc lựa chọn học sinh Việt Nam vào Đại học Lômônôxôp có phần lỏng lẻo, nhiều sinh viên ta vào đây không đủ sức theo chương trình, nên có năm nhà trường phải chuyển tới bảy sinh viên Việt Nam sang trường Đại học khác. Bởi thế ngoài việc học tiếng Nga, Thi cùng bạn bè học thêm Toán. Rất may, thầy Ivanop sau mấy buổi dạy toán (với yêu cầu củng cố vốn tiếng Nga) thấy nhóm học sinh này giải toán khá nhanh, ông đã dạy một chương trình toán thực sự. Nhờ sự giúp đỡ tận tình ấy, Thi cùng sáu bạn thuộc lớp toán đặc biệt Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã được lựa chọn vào học Khoa Toán – Cơ Trường Đại học Lômônôxôp.

Bước chân vào năm học thứ ba, Thi quyết định theo học chuyên ngành hình học vi phân và tôpô. Anh gặp được giáo sư A.T.Fômenkô và xin được học tập, nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của ông.

-Tại sao anh lại chọn các bài toán biến phân tôpô làm hướng nghiên cứu? – Ông hỏi.

-Tôi bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp của chúng biểu hiện ở tính trừu tượng, tính trí tuệ, sự độc đáo.

-Những điều đó cũng rất quan trọng, nhưng vẫn là vẻ đẹp bên ngoài thôi. Còn vẻ đẹp thực sự của toán học phải tìm ở giá trị của chúng đối với sự phát triển nhận thức về thế giới tự nhiên và xã hội loài người. Ông mỉm cười và vui vẻ chấp nhận nguyện vọng của anh. Và như vậy, anh là một trong những sinh viên đầu tiên của ông. Vào thời gian đó, A.T.Fômenkô tập trung nghiên cứu chủ yếu theo hai hướng, các phương pháp hình học tôpô trong biến phân học hiện đại và phân loại các đa tạp có số chiều nhỏ. Ông đã định hướng và lôi cuốn Thi vào cả hai lĩnh vực đó.

Gần năm rưỡi miệt mài, nghiền ngẫm sách báo, tư liệu, dưới sự hướng dẫn tận tình của A.T.Fômenkô, Đào Trọng Thi đã phát hiện được những đặc trưng mới của các mặt cầu trắc địa hoàn toàn trong các không gian đối xứng để phân loại chúng. Kết quả đó của khoá luận năm thứ tư được báo cáo và được giải thưởng ở hội nghị khoa học sinh viên. Tạp chí Toán học của Liên Xô đã đăng khoá luận của anh coi như một công trình nghiên cứu. Giáo sư A.T.Fômenkô rất vui với kết quả này.

Vào năm thứ năm, A.T.Fômenkô gợi ý anh chọn đề tài luận văn tốt nghiệp theo hướng tôpô các đa tạp có số chiều nhỏ. Luận văn tốt nghiệp của anh khảo sát các lược đồ Oai-tơ-het và sử dụng chúng để phân loại các đa tạp ba chiều. Kết quả này cũng được báo cáo và được thưởng ở hội nghị khoa học sinh viên. Và lần thứ hai, luận văn tốt nghiệp của Đào Trọng Thi được giới thiệu trên Tạp chí Toán học Liên Xô. Người đọc nhìn thấy ở anh một dấu hiệu của nhà toán học tương lai.

Sau năm năm học tập, Đào Tro0ngj Thi tốt nghiệp đại học “bằng đỏ” với tất cả các bài thi đạt điểm năm, điểm tối đa. Cộng với hai công trình nghiên cứu có giá trị, anh được nhà trường giữ lại làm nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của Giáo sư A.T.Fômenkô.

Sau những ngày nghỉ hè, trở lại Matxcơva, anh đến gặp người thầy lớn của mình để xin xác định đề tài luận án Phó tiến sĩ. Giáo sư A.T.Fômenkô gợi ý trên cơ sở mỗi công trình đã có, có thể phát triển thành một luận án theo hướng tương ứng. Anh suy nghĩ rất nhiều về lời khuyên này, bởi nó đảm bảo sự thành công chắc chắn của luận văn Phó tiến sĩ. Nhưng anh muốn tận dụng thời hạn ba năm nghiên cứu sinh, làm một vấn đề có triển vọng phát triển thành luận án tiến sĩ trong tương lai. Trong thời gian đó luận án tiến sĩ của A.T.Fômenkô về Bài toán Olatô nhiều chiều đang có tiếng vang lớn trong giới toán học. Đào Trọng Thi ấp ủ mơ ước đạt được một đỉnh cao nào đó trong lĩnh vực này.

Sau buổi trao đổi với Giáo sư Fômenkô về đề tài luận án Phó tiến sĩ và về bài toán Platô, Đào Trọng Thi trăn trở suy nghĩ. Hoài bão, ước mơ rất lớn, nhưng triển vọng và khả năng thực hiện thế nào. Bởi anh là một nghiên cứu sinh, có nhiệm vụ hoàn thành luận án Phó tiến sĩ trong ba năm. Nếu phát triển các kết quả đã có thì sẽ có luận án tốt nghiệp một cách dễ dàng. Nếu theo đuổi bài toán Platô tương đối nhiều chiều thì không thể loại trừ khả năng không nhận được một kết quả mới nào. Cuối cùng anh quyết định chọn phương án thứ ba: công phá vào một vấn đề cũng rất hóc búa, có triển vọng phát triển xa, đồng thời cũng có triển vọng trong lí thuyết các mặt cực tiểu toàn cục một cách hữu hiệu trên cơ sở khai thác và phối hợp các ý niệm và phương pháp luận hiện đại của giải tích hàm, giải tích lỗi và tôpô.

Anh không có thời gian rảnh rỗi. Lúc nào anh cũng như người thiếu ngủ. Nhiều lúc đi dạo trong vườn, đầu óc cứ hiện lên những đường vành xuyến, các đường cực tiểu.

Trong vòng ba năm, anh liên tiếp công bố bảy bài báo ở các tạp chí toán học uy tín bậc nhất thế giới, tạo nền tảng cho một phương hướng toán học sau này được các nhà toán học Mĩ, Liên Xô, Việt Nam và các nước khác tiếp tục phát triển, hoàn thiện và được giới thiệu với tên là Lí thuyết dạng cỡ. Năm 1977, anh bảo vệ xuất sắc luận án Phó tiến sĩ. Hội đồng bác học đánh giá cao các kết quả của anh, khẳng định triển vọng phát triển thành luận án Tiến sĩ và đề nghị cho anh được ở lại tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công trình để bảo vệ học vị Tiến sĩ. Song theo quyết định của Bộ Đại học Việt Nam, anh đã trở về Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nơi trước đây 11 năm anh còn là một cậu học trò non nớt, chỉ như một cái cây toả xanh cành lá. Anh phấn đấu để trở thành một cán bộ giảng dạy có uy tín tron g trường. Năm 1979, anh được cử làm Chủ nhiệm bộ môn Hình học – Tôpô. Anh vừa đảm đương công việc giảng dạy, quản lí vừa tiếp tục công trình nghiên cứu của mình. Trong thời gian này anh còn bị hạn chế bởi mục đích viết luận án, song anh tự khép mình vào mục tiêu phấn đấu chinh phục “Bài toán Platô tương đối nhiều chiều”, hoài bão ước mơ ngày nào phải tạm gác lại vì hoàn cảnh.

Một nguồn sức mạnh mới tiếp thêm cho anh trên con đường hiến dâng cho khoa học. Năm 1979, anh lập gia đình. Chị Mỹ Lộc đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Lêningrat và trở về nước năm 1978. Hai người cưới nhau không có căn nhà riêng. Nhưng cả hai đều cảm thấy hạnh phúc bởi những gì đã làm được bằng sức sáng tạo của mình. Rất có thể Mỹ Lộc cũng làm luận văn Phó tiến sĩ và Tiến sĩ, nhưng chị dành thời gian giúp chồng hoàn thành công trình. Tuy chưa hiểu hết, song chị cảm nhận được rằng bài toán Platô mà chồng mình đang đeo đuổi có tầm cỡ vượt khỏi biên giới của một công trình đơn thuần lí thuyết trừu tượng vốn rất tiêu biểu của toán học.

Năm 1980, sau ba năm lao động miệt mài, anh đã xây dựng thành công lí thuyết đa biến tạp phân tầng và sử dụng nó để thiết lập mô hình toán học cho “Bài toán Platô cổ điển nhiều chiều”, chứng minh sự tồn tại của các mặt cực tiểu tương đối nhiều chiều và khảo sát các tính chất cơ bản của chúng. Anh công bố kết quả này trên Tạp chí Tin tức của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Trên cơ sở kết quả mới này anh hoàn thành bản thảo luận án Tiến sĩ của mình.

Năm 1982, Đào Trọng Thi trở lại Liên Xô. Anh dành thời gian để dựng cuốn sách chuyên khảo, hệ thống tư tưởng toán học mà anh nung nấu trong bao năm. Ngày 23 tháng 11 năm 1984, anh bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ với đề tài: “Các đa biến tạp và bài toán biến phân hình học nhiều chiều trên các đa tạp Rieman”. Viện sĩ X.P.Nôvikôp đánh giá: “Công trình nghiên cứu này là một trong những thành tựu chính của lĩnh vực bài toán biến phân nhiều chiều trong mấy chục năm gần đây”. Nhà xuất bản Khoa học Liên Xô đã xuất bản cuốn Các mặt cực tiểu và bài toán Platô của Đào Trọng Thi. Cuốn sách được Nhà xuất bản Hội Toán học Mĩ dịch sang tiếng Anh và giới thiệu rộng khắp thế giới. Lần in này anh có viết thêm hai chương mới cho chủ đề được cô đọng và sáng rõ hơn, cuốn sách mang đầu đề: Các mặt cực tiêu, các đa biến tạp phân tầng và bài toán Platô.

Trong lĩnh vực lí thuyết các mặt cực tiểu hiện đại, cùng với trường phái Mĩ và trường phái châu Âu, trường phái Xô Viết được kính nể như một trường phái hàng đầu. Với các đóng góp và uy tín của mình, Đào Trọng Thi xứng đáng đại diện cho trường phái này sau Viện sĩ A.T.Fômenkô.

Năm 1984 Đào Trọng Thi trở về nước, giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi làm Chủ nhiệm khoa Sau đại học. Ông được mới dự Đại hội các nhà toán học thế giới tổ chức tại Mĩ năm 1986 và nhiều Hội nghị toán học quốc tế khác, được mời giảng dạy và công tác khoa học ở nhiều trường Đại học và Viện nghiên cứu trên thế giới. Năm 1985, tên tuổi gắn với công trình của ông được ghi vào Từ điển Bách khoa toàn thư toán học Liên Xô với tư cách là một trong các chuyên gia đầu ngành của lĩnh vực “Bài toán Platô nhiều chiều”, được xếp vào hàng một nghìn nhà toán học xuất sắc của thế kỉ. Trung tâm tiểu sử quốc tế ở Cambridge (Anh) đã lựa chọn ông trong một danh sách khoảng 8000 người đạt thành tựu nổi bật nhất trên thế giới về tất cả các lĩnh vực hoạt động hiện nay: thương mại, nghệ thuật, khoa học, và các nghề nghiệp khác, các hoạt động xã hội để giới thiệu tiểu sử trong cuốn: “Những con người của thành tựu” ấn hành năm 1993. Năm 1996: Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2001 ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngày 12 tháng 11 năm 2006 ông được bầu làm Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Nga. Ngày 23 tháng 07 năm 2007 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá – Giáo dục – Thanh niên – Thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Ngày 16 tháng 10 năm 2007 ông hết nhiệm kì Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Tháng 4 năm 2016, ông hết nhiệm kì làm Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá – Giáo dục – Thanh niên – Thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội.

VHL  

Hộp thư Thơ Văn với chủ đề “Người Hải Phòng” dự thi:

Thời gian qua, BTC đã nhận được Thơ Văn dự thi của các tác giả:

Hải Phòng: Phan Dũng, Lại Xuân Hậu, Nguyễn Ban, Vũ Hoàng Lâm, Bùi Sỹ Căn, Nguyễn Hùng, Vũ Ngọc Anh, Đặng Quang Đạo, Nga Lê, Trần Duy Hạnh, Đào Nguyên Lịch, Bùi Đức Nội, Nguyễn Thị Hiền, Thúy Vinh, Quỳnh Lê, Nguyễn Thị Nho, Lê Việt Hùng, Ngô Thị Mai Hà, Vương Giao Tuyến, Hoàng Ngãi, Bùi Thế Đạt, Đoàn Khương, Lê Trung Cường, Hoàng Văn Quyền, Nguyễn Quang Hòa, Trần Vĩnh Hải, Nguyễn Mạnh Trí, Nguyễn Sơn, Nguyễn Minh Dương, Mai Hồng Quang, Phan Giang Sơn, Đào Nguyên Lịch, Nguyễn Đình Tâm, Nguyễn Xuân Căn, Nguyễn Viết Minh, Phạm Văn Quá, Bùi Xuân Tuấn, Ngân Lê, Hồng Giang, Bùi Hoàng Nam, Phạm Hoàng Oanh, Lương Trường Giang, Bùi Thế Đạt, Bùi Anh Vụ, Vũ Văn Trường; Hà Nội: Bùi Đức Thiêm, Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Thị Kim, Lê Nguyên Khôi, Thái Hưng, Đinh Thành Trung, Đỗ Xuân, Trần Thị Bích; Hưng Yên: Nguyễn Thành Tuấn, Nguyễn Quý Nghi; Quảng Ninh: Dương Phượng Toại, Nguyễn Thái Phú, Đỗ Đồng Lệ; TP Hồ Chí Minh: Vương Miện, Nguyễn Vĩnh Bảo, Vũ Lam Hiền, Nguyễn Thế Kỹ, Quang Vũ; Thụy Sỹ: Hoàng Yến; Nam Định: Phạm Mai Hương; Hải Dương: Huy Nguyên; Chi hội Mỹ: Phạm Thu Hương, Trần Thanh Toàn; Cộng hòa Pháp: Nguyễn Nga; Nghệ An: Phan Hữu Cường; Liên bang Nga: Nguyễn Hắc Long, Phạm Đình Cựu; Khánh Hòa: Ngọc Hoa, Lê Đức Bảo; Bà Rịa Vũng Tàu: Trần Thắng; Bungary: Hoàng Minh Thuận; Bình Thuận: Dương Đức; Vương quốc Anh: Đào Thị Kỷ, Nguyễn Thị Mát; Newzealand: Đào Yên; Vĩnh Phúc: Lê Gia Hoài; Đồng Nai: Nguyễn Quốc Toàn, Nguyễn Tâm Thanh; Yên Bái: Đào Thu Hương; Lâm Đồng: Nguyễn Duy Vinh, Nguyễn Thị Mỹ Thiệp; Bắc Giang: Nguyễn Chí Diễn, Đoàn Văn My; Long An: Thi Hoàng Khiêm; Ănggola: Lương Hải Thuận; Đà Nẵng: Trần Quang Sắc, Lê Sơn

Mời các bạn tiếp tục gửi Thơ Văn dự thi. Thơ Văn dự thi xin gửi về email: hoivietkieuhp@gmail.com. Trân trọng cám ơn!

BTC

 

Bài viết khác

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *