Có chí thì nên- Thơ Văn dự thi mã số 36 với chủ đề “Gương sáng Việt Kiều Hải Phòng”

Văn dự thi mã số 36 của tác giả Bùi Sỹ Căn- Hải Phòng

.

CÓ CHÍ THÌ NÊN

Tốt nghiệp TPTH, Hằng không đỗ vào trường đại học, trong khi các bạn phơi phới trên giảng dường làm Hằng thấy tủi thân. Để khỏa lấp nỗi buồn, Hằng xin vào làm công nhân ở Công ty môi trường đô thị Hải Phòng, lấy lao động chân tay để quên đi nỗi buồn trong lòng. Ở môi trường mới, Hằng chẳng có hứng thú gì, cứ cặm cụi đi làm để lấy tiền giúp gia đình, đỡ mang tiếng là người ăn bám. Công việc cứ lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ, Hằng quyết định vượt biên. Âm thầm với ý nghĩ táo bạo, Hằng không tiết lộ cho bất cứ ai, kể cả bố mẹ mình.

Đêm đặt chân lên con tàu tại Đồ Sơn, trong tâm can Hằng biết bao giằng xé, vừa lưu luyến thành phố quê hương, nỗi nhớ gia đình, bạn bè và biết rằng chẳng bao giờ được trở lại quê hương.

Trong đêm tối mịt mùng, tiếng song biển rì rào, con tàu lao vút vào đêm tối mênh mông. Hằng rùng mình ngoái lại nhìn Đồ Sơn lần cuối.

Hai ngày hai đêm lênh đênh giữa biển khơi không biết đâu là bờ. Hằng như bao người khác, say song nôn ra mật xanh mật vàng, không ăn được chỉ uống nước cầm hơi, nằm lử trên boong. Rất may chuyến vượt biên của Hằng đi vào thời gian sóng yên biển lặng, không như những chuyến vượt biên khác, bao người phải bỏ mạng giữa biển khơi, làm mồi cho cá mập.

Đặt chân lên đất Hồng Kông hoa lệ, nhìn những tòa nhà cao vút, Hằng cùng những người vượt biên được lùa vào trong trại tị nạn. Gọi là trại cho oai chứ thực ra là một khu trại tù giam lỏng, với những ngôi nhà lợp lá xập xệ, thấp tè. Xung quanh là hàng rào và chỉ có một cái cổng ra vào, có người gác ngày đêm “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Suốt ngày ở trong trại thật tù tùng, Hằng phó mặc cho đời. Nhiều đêm không ngủ được, vừa nhớ nhà vừa cám cảnh tha hương “Đâm lao phải theo lao” mà đã sang đến đây rồi, phải cố gắng vươn lên và Hằng quyết tâm học thêm ngoại ngữ để mong được sang nước thứ ba. Rất may, hồi học PTTH, Hằng được học tiếng Anh nên Hằng quyết tâm học thêm tiếng Anh. Trong trại cùng Hằng lúc này có Hoàng Văn Tiến, người xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, nguyên là giáo viên dạy anh văn ở một trường cấp hai cùng vượt biên sang đây. Thế là Hằng bám lấy Tiến, nhờ anh dạy thêm tiếng Anh hàng ngày.

Một năm ở trại, thời gian chậm chạp trôi đi, cuộc sống cứ lặp đi lặp lại. Khi nhớ nhà, Hằng ra sát bờ rào nhìn ra những tòa nhà cho khỏa lấp nỗi buồn. Xong với ý nghĩ của Hằng: đã vượt biên sang đây, để mong đi nước thứ ba, thì trước hết phải có ngoại ngữ vừa để giao tiếp, vừa làm vốn sống sau này, nên Hằng chịu khó trau dồi vốn ngoại ngữ của mình. Ngày tháng dần trôi. Vào một ngày đầu thu, Hằng được gọi đi phỏng vấn. Nhờ có vốn ngoại ngữ hơn các trại viên, nên Hằng được xếp đi nước thứ ba là Mỹ. Vừa mừng lại vừa lo. Bước đi ban đầu đã chót lọt. Nhưng khi đặt chân đến Mỹ, một đất nước tư bản lâu đời, có nền khoa học tiên tiến, Hằng thấy mọi thứ đều ngỡ ngàng. Ở đất nước tư bản lớn này, nếu không có vốn ngoại ngữ và vốn kiến thức văn hóa thì suốt đời làm lao động chân tay nặng nhọc mà thôi. Nên Hằng quyết tâm phải học thêm ngoại ngữ, người tị nạn Việt Nam sang đây, yếu nhất là vốn ngoại ngữ. Một điều Hằng nhận thấy người Mỹ họ nhìn người Việt Nam bằng con mắt khinh thường, phân biệt. Thế là Hằng quyết tâm ngày đi rửa bát thuê, tối theo học thêm ngoại ngữ ở trung tâm ngoại ngữ miễn phí. Ngày đi làm quần quật, tối cắp sách đi học, mệt đến bở hơi tai xong với quyết tâm đã sang được đến đây phải làm sao có công ăn việc làm ổn định. Phải hơn người ở cái đầu để mà đi nên dù nắng hay mưa, mặc cho đêm tối rét mướt như thế nào, Hằng quyết tâm không bỏ một buổi học nào. Ngoài đi học ở trung tâm, Hằng còn tranh thủ giao tiếp với thầy cô giáo, ở những người bản xứ xung quanh để nâng dần vốn ngoại ngữ của mình. Khi ngoại ngữ đã thông thạo, Hằng mới làm đơn xin vào Đại học.

May mắn vô cùng, vốn ngoại ngữ và vốn kiến thức phổ thông, Hằng đã được nhận vào trường. Vừa đi học, vừa đi làm. Miệt mài trong suốt năm năm trời, Hằng đã tốt nghiệp đại học y khoa và được phân công về tiểu bang Tếch-dát. Với bản chất của người Việt Nam cần cù, chịu khó cộng với lòng bao dung của Hằng đã được người dân bản xứ yêu mến, tôn trọng. Từ đấy tiếng tăm của Hằng nổi như cồn.

Không thỏa mãn với tấm bằng bác sĩ, Hằng lại tiếp tục học thêm cao học để lấy bằng thạc sĩ y khoa. Đến lúc này Hằng mới có tiền để mua nhà, sắm ô tô để đi làm cho đỡ vất vả. Khi cuộc sống ổn định, Hằng mới có quyền nhớ về quê hương bản quán, nhớ về gia đình và bạn bè. Hằng quyết định về Việt Nam, về thăm lại quê hương nơi chôn rau cắt rốn của mình, thăm lại gia đình nơi tổ ấm ngày xưa, thăm lại bạn bè cùng trang lứa. Thăm lại thành phố hoa phượng đỏ mà ngày nào còn cắp sách tới trường trong tiếng nhạc ve và mỗi khi đến hè lòng man mát buồn.

Từ Mỹ về thành phố Hồ Chí Minh rồi từ thành phố Hồ Chí Minh về Hải Phòng. Khi chiếc máy bay hạ cánh xuống sân bay Cát Bi. Nhìn thành phố thay đổi diệu kì những tòa nhà cao tầng san sát, đường phố rộng dài và đặc biệt với những chiếc cầu hiện đại nhiều kiểu dáng mà trước đây Hằng chưa bao giờ thấy. Nhìn thành phố hôm nay, lòng Hằng rộn lên bao xúc động, hai hàng nước mắt chảy dài trên gò má, trong khi bố mẹ, anh chị, bạn bè ùa ra đón ôm chầm lấy Hằng như đón những đứa con xa.

BSC

.

Hộp thư Thơ Văn với chủ đề “Gương sáng Việt Kiều Hải Phòng” dự thi:

Thời gian qua, BTC đã nhận được Thơ Văn dự thi của các tác giả:

Hải Phòng: Hải Xuân, Lại Xuân Hậu, Nguyễn Hùng, Bùi Xuân Tuấn, Bùi Sỹ Căn, Vũ Ngọc Anh, Hà Thu, Thu Nga, Hải Vân, Lê Minh Dũng; Hà Nội: Nguyễn Thanh Hải, Bùi Đức Thiêm, Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Thị Kim; Hưng Yên: Nguyễn Thành; Đà Nẵng: Châu Viết Mơ; Quảng Ninh: Dương Phượng Toại, Nguyễn Thái Phú; TP Hồ Chí Minh: Vương Miện, Nguyễn Vĩnh Bảo; Praha: Hoàng Yến; Ninh Bình: Trần Kế Hoàn; Mỹ: Trần Thanh Toàn; Cộng hòa Pháp: Nguyễn Nga; Nghệ An: Phan Hữu Cường; Liên bang Nga: Nguyễn Hắc Long; Khánh Hòa: Ngọc Hoa, Trương Thị Bích Chi; Bà Rịa Vũng Tàu: Trần Thắng; CHLB Đức: Trần Thị Lan Anh; Sóc Trăng: Võ Thương; Phú Thọ: Tuyết Nhung; Cần Thơ: Mai Thị Như Ý; Đồng Tháp: Lê Minh Dũng…

Mời các bạn tiếp tục gửi Thơ Văn dự thi. Thơ Văn dự thi xin gửi về email: hoivietkieuhp@gmail.com. Trân trọng cám ơn!

BTC

Bài viết khác