Văn dự thi mã số 52 của tác giả Trần Văn Đàm- TP Hồ Chí Minh
.
DẤU CHÂN NGƯỜI CON XỨ CẢNG TRÊN ĐỈNH NÚI THIÊNG
Đền Thượng linh thiêng trên đỉnh núi Tản Viên (Ba Vì, Hà Nội) từ lâu đã trở thành một biểu tượng tâm linh gắn liền với cội nguồn lịch sử và văn hóa dân tộc Việt Nam. Đằng sau sự uy nghi bề thế của ngôi đền ấy hôm nay là mồ hôi, công sức, ý chí sắt đá và tấm lòng thơm thảo của một người con hướng về đất mẹ: Cụ Nguyễn Thị Mát nữ kiều bào Anh quốc, một tấm gương sáng ngời tiêu biểu cho nghĩa tình kiều bào Hải Phòng luôn hướng về quê hương đất nước.
Cuộc đời của cụ Nguyễn Thị Mát là một hành trình dài đầy ắp những gian lao nhưng cũng vô cùng kiêu hãnh. Trải qua bao thăng trầm của thời gian và lịch sử khu di tích Đền Thượng trên đỉnh núi cao hơn một nghìn mét từng chìm trong hoang phế. Chiến tranh, thời tiết khắc nghiệt cùng sự tàn phá của thời gian đã biến nơi đây thành những đống gạch vụn, chỉ còn lại vách đá lạnh lẽo và mây mù bao phủ. Nhìn cảnh tượng ấy, trong lòng người con xa xứ nặng lòng với văn hóa cội nguồn trào dâng một nỗi xót xa khôn tả. Với tâm nguyện phải trả lại dáng vẻ uy nghiêm cho chốn linh thiêng thờ Thánh Tản Viên, cụ Mát đã đưa ra một quyết định táo bạo và đầy trăn trở dốc toàn bộ tâm lực tài sản và tuổi xế chiều của mình để tôn tạo lại ngôi đền.
Với những người con xa xứ, khoảng cách địa lý hay thời gian dường như chưa bao giờ làm phai mờ đi nhịp đập của hai tiếng “quê hương”. Giống như cảm giác chộn rộn mỗi khi xuân về, khi những người xa quê mong mỏi tìm về một “điểm hẹn” yêu thương để thấy phố xá tấp nập, dòng người hối hả, và để trở về bên mâm cơm gia đình ấm áp dẫu chỉ vài món giản dị tình cảm mà cụ Mát hướng về cội nguồn cũng bắt nguồn từ một nỗi niềm thổn thức nguyên vẹn như thế. Dù sinh sống ở tận xứ sở sương mù xa xôi, hướng về đất mẹ đối với cụ không chỉ là nỗi nhớ nhung da diết trong những dịp giao mùa mà đã hóa thành hành động dấn thân mãnh liệt.
Những ngày đầu tiên đặt chân lên đỉnh Tản Viên để khảo sát và bắt tay vào công việc, khó khăn lớn nhất chính là địa hình hiểm trở. Đường lên núi khi đó chỉ là những lối mòn cheo leo, dốc đứng, hiểm trở, không có điện, không có nước ngọt, phương tiện giao thông hoàn toàn bất lực. Nhiều người từng ái ngại lắc đầu trước một công việc quá sức đối với một người phụ nữ đã ở tuổi xế chiều. Thế nhưng, bằng ý chí phi thường và một chữ tâm sáng ngời, cụ Mát không hề chùn bước. Cụ đã trực tiếp bám trụ lại chốn rừng thiêng nước độc, ăn cơm nắm, uống nước suối, đối mặt với cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông miền Bắc và cái khắc nghiệt của núi rừng.
Hình ảnh người phụ nữ nhỏ nhắn nhưng kiên cường ấy đã trở thành nguồn động lực to lớn cho những người thợ xây dựng. Không quản ngại hiểm nguy, cụ Mát đã kiên tâm vận động các nguồn lực xã hội hóa, kêu gọi sự đồng lòng của nhân dân, phật tử và cộng đồng kiều bào khắp nơi hướng về công trình. Bản thân cụ đã bỏ ra biết bao tâm huyết, trực tiếp giám sát từng công đoạn thi công, từ việc chọn từng hòn đá cuội, viên gạch cho đến việc tìm kiếm những nghệ nhân điêu khắc tài hoa nhất để đảm bảo ngôi đền giữ được nguyên vẹn giá trị kiến trúc truyền thống và sự tôn nghiêm vốn có.
Có những giai đoạn, vật liệu xây dựng phải gùi bằng tay hoặc thuê ngựa thồ, vượt qua những con dốc dựng đứng qua sương mù và vực sâu. Mỗi viên gạch, mỗi khối xi măng đưa được lên đến đỉnh núi là chứa đựng biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu của những người thợ, mà đứng đầu là cụ Mát. Sau hơn ba năm ròng rã bám trụ không quản ngày đêm, vượt qua hàng ngàn khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua, công trình trùng tu Đền Thượng đã hoàn thành trong sự ngỡ ngàng và biết ơn sâu sắc của cộng đồng.
Không dừng lại ở việc khơi dựng kiến trúc, cụ Nguyễn Thị Mát còn dành trọn tâm huyết cho việc phục hồi các nghi lễ truyền thống, gìn giữ không gian văn hóa tâm linh tại đây, giúp cho các thế hệ mai sau luôn khắc ghi đạo lý “uống nước nhớ nguồn” tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền nhân có công khai phá và bảo vệ đất nước. Những đóng góp thầm lặng mà vĩ đại của cụ đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận qua nhiều phần thưởng cao quý, nhưng phần thưởng lớn nhất đối với một người con xa quê chính là sự trường tồn của ngôi đền và tình cảm kính trọng mà muôn đời con cháu đất Việt dành cho cụ.
Tấm gương của cụ Nguyễn Thị Mát minh chứng sinh động cho sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường và phẩm chất cao đẹp của người con đất Cảng xa xứ. Dù ở bất cứ phương trời nào dòng máu Lạc Hồng vẫn luôn chảy rạt rào và những tấm lòng vàng như cụ Mát sẽ mãi là ngọn lửa sưởi ấm thắp sáng truyền thống nhân ái đoàn kết và tri ân nguồn cội cho muôn đời sau.
TVĐ
.
Hộp thư Thơ Văn với chủ đề “Gương sáng Việt Kiều Hải Phòng” dự thi:
Thời gian qua, BTC đã nhận được Thơ Văn dự thi của các tác giả:
Hải Phòng: Hải Xuân, Lại Xuân Hậu, Nguyễn Hùng, Bùi Xuân Tuấn, Bùi Sỹ Căn, Vũ Ngọc Anh, Hà Thu, Thu Nga, Hải Vân, Lê Minh Dũng, Lâm Thiên Hương, Khắc Hòa, Nguyễn Mạnh Thắng; Hà Nội: Nguyễn Thanh Hải, Bùi Đức Thiêm, Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Thị Kim; Hưng Yên: Nguyễn Thành; Đà Nẵng: Châu Viết Mơ; Quảng Ninh: Dương Phượng Toại, Nguyễn Thái Phú, Lê Văn Luận; TP Hồ Chí Minh: Vương Miện, Nguyễn Vĩnh Bảo, Phan Mỹ Hạnh Nhân, Vũ Lam Hiền, Trần Văn Đàm; Praha: Hoàng Yến; Ninh Bình: Trần Kế Hoàn, Ngô Xuân Thanh; Mỹ: Trần Thanh Toàn; Cộng hòa Pháp: Nguyễn Nga; Nghệ An: Phan Hữu Cường; Liên bang Nga: Nguyễn Hắc Long; Khánh Hòa: Ngọc Hoa, Trương Thị Bích Chi; Bà Rịa Vũng Tàu: Trần Thắng; CHLB Đức: Trần Thị Lan Anh; Sóc Trăng: Võ Thương; Phú Thọ: Tuyết Nhung; Cần Thơ: Mai Thị Như Ý; Đồng Tháp: Lê Minh Dũng; Thụy Sỹ: Hoàng Hồng…
Mời các bạn tiếp tục gửi Thơ Văn dự thi. Thơ Văn dự thi xin gửi về email: hoivietkieuhp@gmail.com. Trân trọng cám ơn!
BTC