Trao đổi tìm hiểu về Tết Chol Chnam Thmay

Trong ba ngày 13, 14, 15/4 hàng năm tại Campuchia và một số nước khu vực Đông Nam Á tưng bừng diễn ra lễ đón năm mới- Tết Chol Chnam Thmay.

alt

Những ngày này đến Camphuchia các bạn sẽ cảm nhận không khí náo nhiệt, đèn hoa sáng rực từ các ngôi chùa kéo dài đến các nẻo đường lộng lẫy. Người dân và du khách đổ ra đường tham gia vào các hoạt động lễ hội đường phố. Theo phong tục Campuchia, vào thời gian này, một vị thần trong trang phục đen ngồi trên ngựa sẽ dừng lại tại vùng đất kinh đô Campuchia để bảo vệ người dân trong năm mới. Trước khi năm mới đến, người dân đặt một chiếc bàn trước nhà với 11 loại quả và nến để cúng vị thần này. Trong ba ngày Tết, người dân đi lễ chùa và cũng giống như tục lệ của người Việt, người Khmer đi thăm hỏi lẫn nhau, chúc nhau tài lộc, sức khoẻ, phát đạt và cùng nhau tham gia các trò vui.

alt

Người dân mang hoa tươi, đồ lễ lên chùa nghe giảng kinh từ sáng sớm, rồi thực hiện nghi thức tắm Phật, cắm cờ hoa lên bảo tháp bằng cát và đổ ra đường phố. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân Campuchia dội nước lên người nhau, đó là lễ hội té nước, bất kể người lớn, trẻ em, khách du lịch, ai nấy đều hòa vào màn té nước vui nhộn trong tình thân ái. Tết cổ truyền Campuchia đặc biệt nhất là các điệu múa Apsara quyến rũ, cùng các món ăn truyền thống đậm hương vị Khmer dùng chung với rượu thốt nốt thơm lừng.

alt

Đến Campuchia dịp này, chúng ta cùng chiêm ngưỡng kỳ quan Angkor vĩ đại nguy nga, thành cổ Angkor Wat với những ngọn tháp chọc trời... Sau lễ hội té nước, du khách chìm đắm trong ánh hoàng hôn dịu dàng trên đỉnh đồi Bakheng, và thưởng thức chương trình ca múa nhạc truyền thống của người Khmer.

MT

16 bức ảnh phong cảnh tuyệt vời

Đây là những bức ảnh mẫu mực được đưa vào cuốn sách Masters of Landscape Photography (tạm dịch: Những bậc thầy về ảnh phong cảnh).
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 1
Mặt trời lúc nửa đêm- bức ảnh được nhiếp ảnh gia Daniel Kordan chụp tại núi Husfjellet trên đảo Senja, Na Uy. Nhiếp ảnh gia Kordan chia sẻ, ông rất may mắn khi ghi lại được khoảnh khắc hiếm hoi mặt trời rạng rỡ vào lúc nửa đêm dù Đêm trắng không phải là điều gì quá đặc biệt tại các nước Bắc Âu.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 2
Bức ảnh đẹp như tranh vẽ này được nhiếp ảnh gia Lars van de Goor chụp tại khu rừng Speulder ở Hà Lan. Những thân cây trong rừng nhìn như những vũ nữ đang nhảy múa trong sương sớm.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 3
Bức "Trời đất giao hòa" này được nhiếp ảnh gia Marc Adamus chụp tại Vườn Quốc gia El Capitan của Mỹ.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 4
Bức ảnh hồ Alsek được nhiếp ảnh gia Art Wolfe chụp lại để ghi lại những nỗ lực bảo tồn thiên nhiên tại Vườn Quốc gia Tatshenshini-Alsek. Bức ảnh này thường được các nghị sĩ Mỹ và Canada sử dụng làm căn cứ để phản đối việc khai thác mỏ dẫn đến tàn phá thiên nhiên tươi đẹp tại khu vực này.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 5
Bức ảnh "Bông tuyết" được nhiếp ảnh gia người Đức Sandra Bartocha ghi lại tại rừng Gesperterwald trong một ngày mưa tuyết. Bà chia sẻ, bà đã mất cả một ngày để bắt được khoảnh khắc "độc nhất vô nhị" này.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 6
Ảnh "Tháp Trango" được nhiếp ảnh gia Colin Prior- người được mệnh danh là Mountain Man (tạm dịch là Người núi)- chụp tại dãy Karakoram của Pakistan.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 7
Bức ảnh "Hồ ngọc" của nhiếp ảnh gia David Noton- người giành được nhiều giải thưởng về Thiên nhiên Hoang dã của BBC.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 8
Bức ảnh "Dòng suối" của tác giải Hans Strand. Ông là người đã đoạt rất nhiều giải thưởng hàng đầu thế giới về ảnh thiên nhiên hoang dã như Hasselblad Master Award và Wildlife Photographer of the Year.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 9
Bức ảnh thiên nhiên tuyệt mỹ này được nhiếp ảnh gia Joe Cornish chụp lại. Ông Joe Cornish là người chịu ảnh hưởng của những bậc thầy hàng đầu về ảnh phong cảnh như Galen Rowell, David Muench, Paul Wakefield và Peter Dombrovskis cùng các nghệ sĩ vẽ tranh phong cảnh châu Âu từ thế kỷ 18.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 10
Bức ảnh "Thuyền đậu bến" của nhiếp ảnh gia Jonathan Chritchley. Ông Chritchley là một bậc thầy về ảnh phong cảnh theo phong cách tối giản. Những bức ảnh của ông luôn được trưng bày tại các triển lãm nghệ thuật hàng đầu trên thế giới.
Bức ảnh "Ánh sáng đêm" do nhiếp ảnh gia Mark Bauer chụp lại. Ông Bauer đã đạt được rất nhiều giải thưởng danh giá như Landscape Photographer of the Year, the Landscape Photographer of the Year, and the International Garden Photographer of the Year.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 12
Bức ảnh "Thế giới đã mất" của nhiếp ảnh gia Mikko Lagerstedt. Ông là người nổi tiếng với những bức ảnh phong cảnh gợi lên những cảm xúc đặc biệt cho người xem.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 13
Bức ảnh chụp Đồi Colmer theo phong cách cực kỳ tối giản của nhiếp ảnh gia Ross Hoddinott đã mang lại rất nhiều danh giá cho ông. Những bức ảnh sau đó của ông liên tục xuất hiện trên các tạp chí hàng đầu về nhiếp ảnh trên thế giới.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 14
Bức ảnh "Suối mây" của nhiếp ảnh gia Thierry Bornier được ca ngợi là "một kiệt tác hội họa" trong nhiếp ảnh chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các danh họa lớn như Rembrandt, Monet và Van Gogh.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 15
Bức ảnh "Bụi vàng" của nữ nhiếp ảnh gia Valda Bailey được ngợi ca bởi "những nét chấm phá" mà bà tạo ra gây ra "ấn tượng sâu sắc" cho người xem.
Chiêm ngưỡng 16 ảnh phong cảnh của những tay máy hàng đầu thế giới - Ảnh 16

Bức ảnh hồ nước của nhiếp ảnh gia Tom Mackie đã gây được tiếng vang lớn bởi sự kết hợp hoàn mỹ giữa ánh sáng, góc cảnh và màu

Nguyễn Mạnh Cương- Sưu tầm___

Đầu năm đi lễ Chùa Vẽ

Chùa Vẽ có tên chữ là Hoa Linh Tự, gắn liền với những sự kiện oanh liệt chống ngoại xâm của quân dân ta trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Vương Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 1287- 1288 của quân dân ta thời Trần.

0d44

Truyền sử địa phương ghi rõ các thám tử của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã sử dụng ngôi chùa này để quan sát đồn trại giặc và vẽ sơ đồ chuẩn bị cho trận đánh Bạch Đằng năm 1288 thắng lợi. Chùa Vẽ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ còn khá nguyên vẹn, nguy nga.

0d45

Toà Phật điện cấu trúc hình chữ "Đinh" gồm 5 gian tiền đường và 4 gian chuôi vồ. Kèm hai bên hậu cung là hai ngôi nhà chè nhỏ, nơi đặt bàn thờ "Tam toà Thánh Mẫu" và "Đức Ông bản thổ". Bàn thờ Trần Hưng Đạo, vị tổng chỉ huy quân đội nhà Trần được lập ở gian phía trái toà tiền đường.

Những hiện vật còn được bảo tồn đều là cổ vật quí giá, đặc biệt là hệ thống tượng tháp, tượng thánh thần, tượng Hậu phật, tượng Sư tổ. Ngày 25/1/1994, Chùa Vẽ được nhà nước công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.

MT

Hải Phòng đêm Giao thừa Tết Kỷ Hợi 2019

Đêm 4/2/2019, tại Quảng trường Nhà hát thành phố tổ chức Chương trình biểu diễn nghệ thuật Đêm giao thừa “Mừng xuân Kỷ Hợi 2019” với nhiều tiết mục phong phú, hấp dẫn, sôi động tạo không khí vui tươi đón Tết Nguyên đán.

alt

Tham dự chương trình có các đồng chí lãnh đạo thành phố, lãnh đạo các Sở, ban, ngành cùng đông đảo bà con nhân dân thành phố Cảng.

0d42

Một chương trình nghệ thuật trẻ trung, sôi động mang đậm nét truyền thống với sự tham gia của các đơn vị nghệ thuật thành phố và các ca sỹ là người con của Hải Phòng biểu diễn. Bên cạnh chương trình biểu diễn nghệ thuật tại Quảng trường Nhà hát thành phố, các chương trình nghệ thuật cũng được tổ chức tại nhiều địa điểm khác trên địa bàn thành phố và được truyền hình trực tiếp trên kênh THP .

0d43

Thời khắc giao thừa là màn bắn pháo hoa đồng loạt tại hồ Tam Bạc, hồ An Biên, khu Công nghiệp VSIP, Trung tâm Hành chính quận Dương Kinh, Khu di tích Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm nay Giao thừa tiết trời mát mẻ khô ráo báo hiệu một mùa xuân mới tươi đẹp với nhiều khởi sắc tốt lành.

MT

Hội LL Việt Kiều HP phát hành tập thơ “Hải Phòng ra biển lớn”

Ngày 29/1/2019, Hội Liên lạc Việt Kiều Hải Phòng phát hành tập thơ “Hải Phòng ra biển lớn”. Cuốn sách do Nhà Xuất bản Hải Phòng cấp phép tháng 1/2019.

alt

Tập sách gồm 55 bài thơ của 36 tác giả là hội viên CLB Thơ văn Việt Kiều Hải Phòng. Lời giới thiệu cuốn sách do ông Nguyễn Mạnh Cương- Chủ tịch Hội LL Việt Kiều Hải Phòng viết có đoạn: Cuốn sách tập hợp những bài thơ ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi thành phố Cảng Hải Phòng đang từng ngày đổi mới. Còn có những bài thơ của Kiều bào Hải Phòng hiện đang sống ở nhiều nơi trên thế giới, qua những vần thơ, thể hiện tấm lòng và trái tim luôn hướng về thành phố Hoa Phượng Đỏ quê hương. Tập thơ là một trong những ấn phẩm chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội Liên lạc Việt Kiều Hải Phòng (1989- 2019). Xin trân trọng giới thiệu tới độc giả với tấm lòng trân quí.

MT

Đoàn Hội LLVK Hải Phòng tham quan chiêm bái Chùa Thầy

Ngày 26/1/2019 đoàn Hội LL Việt Kiều Hải Phòng đã tới tham quan chiêm bái Chùa Thầy tại núi Thầy thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.

alt

Ngôi chùa cổ, mái ngói cong được xây dựng khá khang trang với lối kiến trúc độc đáo kiểu chữ Tam gồm chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng song song với nhau. Bao quát chùa là không gian thoáng đãng với hồ nước trong xanh có hoa khoe sắc nở, có thủy đình, nơi múa rối nước và hai chiếc cầu nhỏ là Nhất tiên kiều trông vào đền Tam phủ, còn Nguyệt tiên kiều nối với đường lên núi. Chùa Hạ là nơi lễ bái của các tăng ni phật tử và là nơi giảng đạo của các nhà sư, còn chùa Trung là nơi thờ Tam Bảo. Lớn nhất, to nhất là chùa Thượng, nơi đặt ba pho tượng chuyển kiếp của thiền sư Từ Đạo Hạnh.

alt

Chùa Thầy còn thờ tượng cha mẹ thiền sư Từ Đạo Hạnh là ông Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan cùng hai người bạn đồng đạo thân thiết của thiền sư là thiền sư Minh Không và thiền sư Giác Hải. Hai bên chùa là hành lang dài thờ mười tám vị La Hán, phía sau là gác chuông, gác trống. Lên giữa lưng chừng núi Thầy là chùa Cao, nơi thiền sư Từ Đạo Hạnh bắt đầu con đường tu hành của mình. Đi vòng ra phía sau là hang Cắc Cớ. Đi ngược lên phía trên là đến đền Thượng, bên cạnh có hang Bụt Mọc, độc đáo kỳ thú, tiếp sau là hang Bò âm u, hang Giớ. Ngoài ra, du khách sẽ thấy một hệ thống văn bia cổ bằng chữ Hán và chữ Nôm, có giá trị được lưu giữ tại ngôi chùa này. Đó là những nét chính của khu danh thắng chùa Thầy. Nơi đây có động, có hồ, có chợ Trời, đất điểm trời tô thật mỹ lệ và hấp dẫn. Một khung cảnh hòa quyện tuyệt mỹ làm đắm say lòng người.

MT

Hội nữ doanh nhân tài năng duyên dáng Hải Phòng đón năm mới 2019

Ngày 2/1/2019 trong khuôn viên tuần lễ văn hóa- du lịch- thương mại doanh nhân Hải Phòng trong thời kỳ hội nhập và triển lãm thành tựu kinh tế doanh nhân Hải Phòng; Hội nữ doanh nhân tài năng duyên dáng Hải Phòng trực thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng đã tổ chức liên hoan đón năm mới 2019.

alt

Sau bài phát biểu khai mạc của nữ doanh nhân Lê Thu Cúc- Chủ tịch Hội nữ doanh nhân tài năng duyên dáng Hải Phòng; 11 nữ doanh nhân Đất Cảng đã trình diễn trang phục dạ hội. Đại diện lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng đã lên sân khấu tặng hoa chúc mừng. Một chương trình giao lưu văn nghệ và liên hoan tiệc ngọt đã diễn ra vui vẻ thân mật. Cũng trong chương trình, khán giả đã xem trình diễn nghệ thuật cắm hoa ngày Tết. Đây là hoạt động thiết thực ý nghĩa của Hội nữ doanh nhân tài năng duyên dáng Hải Phòng chào đón năm mới 2019 trong khuôn viên tuần lễ văn hóa- du lịch- thương mại doanh nhân Hải Phòng trong thời kỳ hội nhập và triển lãm thành tựu kinh tế doanh nhân Hải Phòng.

MT

Tọa đàm, giao lưu văn nghệ “Tuổi trẻ Việt Nam- Nhật Bản vun đắp tình hữu nghị”

alt

Ngày 20/12/2018 tại hội trường Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, số 3 phố Chùa Láng, quận Đống Đa, TP Hà Nội đã diễn ra tọa đàm, giao lưu văn nghệ “Tuổi trẻ Việt Nam- Nhật Bản vun đắp tình hữu nghị”- lần 2.

alt

Tham dự có đại diện Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam; lãnh đạo Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Hội Hữu nghị Việt Nam- Nhật Bản; CLB Haiku Việt; CLB Thơ văn Việt Kiều TP Hải Phòng; đại diện một số trường Đại học tại thủ đô Hà Nội; các cơ quan thông tấn báo chí.

alt

Sau bài phát biểu khai mạc của BTC; đại diện Đại sứ quán Nhật Bản đã có bài phát biểu chào mừng; một chương trình giao lưu văn nghệ gồm các bài hát tiếng Việt và tiếng Nhật, biểu diễn thư pháp, đọc thơ Haiku, trưng bày ảnh nghệ thuật, triển lãm các tác phẩm mỹ nghệ Nhật Bản.

alt

Cũng trong chương trình là tọa đàm, giao lưu sinh viên Việt- Nhật và trao học bổng cho sinh viên vượt khó học giỏi. Đây là chương trình thiết thực ý nghĩa chào mừng ngày sinh Nhật Hoàng trong tháng 12 và chào mừng kỷ niệm 45 năm quan hệ Việt Nam- Nhật Bản.

alt

Chương trình tọa đàm, giao lưu văn nghệ “Tuổi trẻ Việt Nam- Nhật Bản vun đắp tình hữu nghị”- lần 2; đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người tham dự.

MT

Những dấu ấn lịch sử vàng son của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng

alt

Thượng toạ Thích Thanh Giác

(Uỷ viên HĐTS- Phó Trưởng ban Thường trực Ban Hoằng pháp TƯGHPGVN

Phó trưởng ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN thành phố Hải Phòng)

- Cách đây 710 năm ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân niên hiệu Hưng Long thứ 16, đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn tại Am Ngoạ Vân, trên non thiêng Yên Tử, thọ 51 tuổi. Ngài là vị vua thứ ba của triều Trần (1225-1400) đầy hiển hách. Trong suốt 15 năm trị vì đất nước (1278-1293). Hoàng đề Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278) Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (1279-1284). Trùng hưng (1285-1293). Năm 1293 Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, nhưng Ngài vẫn chỉ đạo và giám sát nhà vua. Vốn sùng kính Đạo Phật từ nhỏ. Năm 1295 Ngài đã đến chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh, trấn Trường Yên (nay thuộc thôn Vũ Lâm xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) tập sự xuất gia (1). Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299) năm 41 tuổi, Ngài chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được Quốc sư Huệ Tuệ thọ giới lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu Đà. Ngài được nhận là người truyền thừa chính thức của thiền phái Yên Tử thuộc thế hệ thứ sáu sau Thiền sư Huệ Tuệ. Việc xuất gia lần này của Trần Nhân Tông đã tạo lên một sự chấn động lớn, một sự bàng hoàng trong dân chúng, bởi đây là hiện tượng có một không hai, không chỉ trong lịch sử Phật giáo Việt Nam mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới. Tiếp đó Ngài đã thu nhận Đồng Kiên Cương (Pháp Loa) và Huyền Quang... làm đệ tử. Trước khi viên tịch, Ngài truyền y bát cho Pháp Loa làm Đệ Nhị Tổ. Pháp Loa truyền y bát cho Huyền Quang thuộc thế hệ thứ ba. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được hậu thế tôn vinh là “Trúc Lâm Tam Tổ”. Do uy tín, đức độ, trí tuệ siêu việt của Điều Ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất Tổ mà Thiền phái Trúc Lâm đã quy tụ được các tông phái Phật giáo Đại Việt thời bấy giờ thành một tổ chức Phật giáo thống nhất.

- Sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông đối với dân tộc nổi trội trên ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước và mở nước. Trên cả ba lĩnh vực, Ngài đã có những đóng góp hết sức đặc biệt. Trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới một người như Phật hoàng Trần Nhân Tông hiếm thấy xuất hiện. Dưới sự lãnh đạo tối cao của Ngài, dân tộc ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (1285 và 1287 - 1288) giữ vững nền tự chủ đất nước trước tham vọng xâm lăng của đế chế Nguyên Mông, một đế chế hung hãn nhất thời đại hầu như chưa chùn bước trước bất cứ một đối thủ nào ở cả hai lục địa Á - Âu. Đơn cử như trên đất Hải Phòng; khi Ngài còn làm tổng chỉ huy đích thân xông pha trận mạc chống giặc Nguyên Mông xâm lược, Ngài và quân đội nhà Trần đã nhiều lần nhận được sự giúp đỡ, che chở của nhân dân và Tăng Ny Phật tử vùng rừng núi non hiểm trở miền Đông Bắc và vùng cửa biển sông Bạch Đằng. Giữa lúc nguy khốn nhất bị giặc baoo vây, truy đuổi gắt gao, vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng đã được Trần Lịa người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) dâng cơm gạo xấu, dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Chân Kim (Dương Kinh) cử người bí mất đưa Ngài và Thượng hoàng vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phân công chiến lược. Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và bộ phận tham mưu chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được các sư trụ trì chùa Đỏ (Linh Độ). Chùa Vẽ (Linh Hoa Tự) ở làng Đoạn Xá giúp đỡ việc quân lương. Chùa Thiểm Khê (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi Trần Hưng Đạo luyện tập quân sỹ chuẩn bị cho trận đánh Trúc Động năm 1288. Chùa Mai Động (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi quân đội triều đình xây dựng kho lương phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Đặc biệt là các làng xã phía Nam huyện Vĩnh Bảo còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện cảm động về căn cứ Lưu Đồn ở huyện Thái Thuỵ, tức cung điện dã ngoại (gọi là Cung Trần Vương) của vua Trần Nhân Tông ở vùng hạ lưu sông Hoá đối ngạn với huyện Vĩnh Bảo.

- Đề cập tới động cơ tu hành của Điều Ngự Giác Hoàng đệ nhất Tổ Trúc Lâm, không thể không nhắc đến vai trò ảnh hưởng to lớn của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đạo hiệu Tuệ Trung Thượng Sỹ. Sách Tam Tổ Thực lục chép rằng: “Nhân Tông tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thu lượm được nhiều tinh hoa của Đạo Thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung làm thấy”. Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung là con cả của An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo phu nhân Lý Thị Nguyệt. Ngài là anh cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu (mẹ của Trần Nhân Tông). Trần Quốc Tung là bậc danh thần lỗi lạc. Ngài đã nhiều lần làm sứ giả đến trại giặc đề nghị hoà và thám thính ở Tổng hành dinh Thoát Hoan. Thực hiện kế sách giữ nước, nhà Trần chủ động “Toàn dân duy binh, tông tử duy thành” (Toàn dân làm lính, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong chính sách kinh tế được nhà Trần áp dụng là pháp cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên rậu bảo vệ chính quyền. Vốn là người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên Mông (từng được cử làm Phó tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc Công Tiết chế Trần Hưng Đạo đâm trách), nên sau khi khải hoàn, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đã được vua Trần giao trấn thủ miền biên ải Thái Bình (vùng Hải Dương và Hải Phòng ngày nay). Trước đó Hưng Ninh Vương Trần Quốc Rung được ban thái ấp Vạn Niên, hiện chưa xác định được địa điểm cụ thể. Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, có lẽ ấp Vạn Niên gần ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo. Ở vùng Dưỡng Chính xã Chính Mỹ của Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung. Các bậc cao niên địa phương giải thích về tên làng Dưỡng Chân vốn được bắt nguồn từ sự kiện đạo quân của nhà Trần, trong 1 lần hối hả hành quân ra vùng cửa biển để xây dựng thế trận Bạch Đằng năm 1288 đã dừng chân nghỉ đêm tại đây. Tịnh thất này nằm trên địa bàn ấp Thang Mộc An Sinh, An Phụ, An Dưỡng, An Bang của An Sinh vương Trần Liễu được cấp sau vụ ông gây bạo loạn “Sông Cái” cuối năm 1236. Tương truyền có lúc hai đức vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã họp bàn kế sách chống giặc với các thân vương, cũng như tham vấn ý kiến của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung tại tịnh thất này. Do có nhiều công lao lớn, nên Hưng Binh vương Trần Quốc Tung được vua Trần ban cho đất đai thực ấp ở làng Dưỡng Chân (sau đổi thành Dưỡng Chính) ở huyện Thuỷ Đường, nay là xã Chính Mỹ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vẫn còn vết tích tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung Thượng Sỹ.

- Ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm bắt nguồn từ mối quan hệ thân tộc giữa Tuệ Trung Thượng Sỹ với đức vua Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã từng được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi bằng Sư huynh, và ký thác Trần Nhân Tông cho Ngài dạy dỗ. Như chúng ta đã biết Trần Nhân Tông tìm đến Đạo Phật không chỉ với mục đích “Độ” cho mình thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, mà còn tìm những điều giải đáp cho hàng loạt câu hỏi lớn: Con người là ai? Thế giới này có hay không? Thật hay ảo? Vấn đề sinh tử? Sắc không? Việc xuất gia tu hành của Ngài không chỉ đơn thuần giải thoát cho cá nhân mà cả dân tộc. Ngài chủ trương rằng: “Thông qua giáo lý của Đạo Phật để nuôi tâm đạo đức, dạy trí làm người, bồi đắp tinh thần độc lập tự cường, phát huy sự hoà thuận trong nhân tâm trăm họ, tạo ra sự hoà hợp quốc gia, hoà hợp vua tôi, hoà hợp cha con, hoà hợp vợ chồng, hoà hợp gia đình xã hội  tạo cội rễ sức mạnh lâu bền cho quốc gia Đại Việt”. Chính từ động luwcju ấy đã thôi thúc Ngài thực hiện thành công rực rỡ sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Đó chính là tư tưởng chủ đạo vĩ đại nhất trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của Ngài.

- Được kế thừa những tinh hoa tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng Sỹ với hai vấn đề cơ bản “Phật tức tâm” và “Lý không” được cô đọng khúc triết trong Cư Trần Lạc Đạo phú (2) bằng chữ Nôm của Ngài.

Bụt ở trong nhà

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuấy bổn (3)

Ta nên tìm Phật

(Hội thứ 5 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Hay:

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền

(Bài kệ Hội thứ 10 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Và trong bài kệ trả lời Pháp Loa:

Hữu cú vô cú

Đằng khô thụ đảo,

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng cầu ký não.

Ngài thể hiện rõ ràng lập trường “Lý bất nhị” đập tan thuyết Lưỡng nguyên “Có có - không không” gạt bỏ thuyết đối lập giữa Niết Bàn và sinh tử, chúng sinh và Phật. Theo Ngài “có có – không không” mà cũng chẳng không, chẳng có. Vì các mặt của sự vật quyện chặt vào nhau như dây bìm bìm quấn vào cây.

Thử hữu cố bi hữu

Thử vô cố bỉ vô

Thử sinh cố bi sinh

Thử diệt cố bỉ diệt

Tạm dịch:

Cái này có thì cái kia có

Cái này không thì các kia không

Cái này sinh thì cái kia sinh

Cái này diệt thì cái kia diệt

Với cái nhìn phóng khoáng, không bị ràng buộc câu thúc về đạo hay đời. Đạo và đời tuy hai mà một, hoà quyện vào nhau như nước với sữa. Đó là tư tưởng “Tuỳ tục”, “Hoà quang đồng trần”, cùng là kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời hành đạo của Ngài và để lại cho muôn đời sau. Trúc Lâm cũng như Trần Thái Tông rất ý thức về tính cách vô thường của cuộc sống và thao thức thực hiện sự giải thoát, đạt đạo. Ngài đã tận dụng thời gian trong mọi hành động, cử chỉ nhỏ nhặt để tham quán thiền đạo, không để cho nó trôi qua một cách vô ích, qua bài kệ:

Thân như hơi thở qua buồng phổi

Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa

Chim quyên kêu rõ bao ngày tháng

Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (4)

Về sự nghiệp hoằng pháp của Ngài. Sử liệu có ghi: Năm 1034 Ngài chủ trương mở rộng công cuộc giáo hoá, bằng việc “Vân du” khắp nơi, đến tận những vùng quê xa xôi hẻo lánh, để vận động nhân dân xoá bỏ dâm từ (những nơi thờ tự các thần loã thể và sinh thực khí), dạy cho dân biết sống và thực hành giáo lý “Thập thiện” (không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu, không tham dục, không sân khuể, không tà kiến). Thủ pháp giáo hoá của Ngài tuy thật đơn giản, nhưng lại trúng với tâm Phật và lòng dân. Bởi cỗi gốc khổ đau hay an lạc của con người đều bắt nguồn từ ba nghiệp thân khẩu ý.

Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh,

Thanh tịnh, không thanh tịnh

Không ai thanh tịnh ai

(Kinh Pháp Cú - Phẩm Tự ngã thứ 12)

“Giáo lý nhập thế căn bản của Đạo Phật, đặt trên nền tảng ba nghiệp: Thân – Khẩu - Ý của con người. Từ ba nghiệp tạo lên một mẫu người đạo đức lý tưởng và hài hoà, những con người ấy sẽ tạo thành một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ được những tệ nạn tràn lan. Việc làm của ông phản ánh nguyện vọng của dòng thiền Trúc Lâm muốn xây dựng 1 xã hội trên nền tảng luân lý Phật giáo. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, nhà vua và hoàng tộc đều là Phật tử tại gia và xuất gia, và các dòng phái Phật giáo bấy giờ hội tụ thống nhất trong dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sự kiện này là đỉnh cao của Phật giáo thời Trần. Do vậy vua Trần Nhân Tông còn được suy tôn là Điều Ngự Giác Hoàng” (5)

Nhận định về sự nghiệp hoằng pháp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhà sử học nổi tigến Lê Mạnh Thát đã nhận xét: “Việc Thượng hoàng Trần Nhân Tông đem 10 điều thiện để dạy dân chúng, rõ ràng phản ảnh quan điểm chính trị của Phật giáo Việt Nam, mà trước đó hơn ngàn năm đã được thi vào trong Kinh Lục Độ tập. Bản kinh này có thể nói là một bài kinh xưa nhất của Phật giáo nước ta hiện biết, đã tập hợp nhuần nhuyễn và thành công tư tưởng Phật giáo và truyền thống dân tộc. Nó liên tục kêu gọi những người lãnh đạo chính trị phải dùng 10 điều thiện để làm “Pháp luật quốc gia” (Pháp quốc) làm “Chính sách quốc gia” (Quốc chính) và đây cũng là lần đầu tiên ta thấy Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện lời kêu gọi này” (6)

- Bài pháp vi diệu này cũng là bức thông điệp tâm linh đã lan toả khắp đất Việt, đặc biệt là xứ Đoài xứ Đông, trong đó có Hải Phòng. Tiêu biểu như chùa Phúc Lâm (Dư Hàng), chùa Nguyệt Quang (Đông Khê), chùa Hàm Long, chùa Thiên Vũ, chùa Linh Sơn (Mỹ Cụ), chùa Vẽ (Hoa Linh Tự), chùa Kha Lâm, chùa Vân Bản... Trong đó đáng chú ý là công chúa Thiên Thuỵ chị gái của vua Trần Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang đắp đê ngăn nước mặn mở mang nhiều làng xã ở Kiến Thuỵ và An Lão Hải Phòng ngày nay. Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ (tức công chúa Quỳnh Trân đạo hiệu là Đại uy Thiên Thánh) đã cho dựng ngôi chùa ở trang ấp Nghi Dương (xã Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ) gọi là chùa Mõ (còn gọi là chùa Nghi Dương). Điều Ngự Giác Hoàng đã nhiều lần về vùng đất này hoằng dương Phật pháp và tới chùa Mõ. Tục truyền, trước khi viên tịch vài ngày, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã về chùa Mõ thăm chị ốm nặng và sau đó công chúa Thiên Thuỵ thác hoá trước Ngài một ngày. Một người chị khác nữa của Ngài là công chúa Chiêu Chinh, cũng bỏ tiền của làm chùa Kha Lâm, đúc chuông, tô tượng, mở chợ bến đò và khai hoang ở vùng đất vẹn sông Lạch Tray (quận Kiến An ngày nay). Theo Ngọc phả đền Kha Lâm: Bà đã để lại cho dân làng 171 mẫu ruộng. Công chúa Chiêu Hoa con vua Trần Thánh Tông cùng chồng là Thái học sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến An) đã dốc lòng giúp dân làng Phù Liễn, làng Tiểu Trà được nhân dân rất sùng kính. Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương toàn hạt dư địa chí, Mục từ miếu huyện Tiên Minh chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua để đi tu ở Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh huyện Tiên Lãng) gặp phụ lão cung kính đón rước. Nhân Tông rất bằng lòng, cho là dân nơi đây biết lễ ban cho tên là “Diên Lão”, lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lá thì rước về thờ sẽ được ch chở. Khi Nhâ Tông nằm trên phiến đá thác hoá, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông, nhớ lời dặn bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông Từ (tức đền thờ Trần Nhân Tông) rất linh ứng, hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”. Đó là những dấu ấn lịch sử vàng son vô cùng thiêng liêng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng.

- Tóm lại: Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là 1 vị vua anh hùng, là vua Phật của Việt Nam, một con người nhân hậu, một thiền sư yên bác năng động. Nói cho đủ hơn, con người Đức vua Trần Nhân Tông là 1 tổng hợp uyển chuyển của các tác phẩm bậc “Trí sỹ”, tư tưởng của Ngài thể hiện tính nhất quán giữa đạo và đời, xuất thế và nhập thế không ngăn ngại. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác...”. Tư tưởng ấy thuộc về Phật giáo Đại thừa, mà các Đại sỹ Bồ tát đã thể hiện trong các kinh: Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, Địa Tạng v.v... với chủ trương “Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh”.

- Tư tưởng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông không chỉ dừng ở thành tựu thế tục “Dĩ nhân tâm vi kỳ tâm” để đạt cho được mục đích tối hậu “Non sông muôn thuở vững âu vàng”, mà nó còn vươn tới tầm cao hơn, xa hơn, siêu việt hơn. Đó là thủ pháp sử dụng giáo lý Đạo Phật để tịnh hoá con người và xã hội. Cụ thể là đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của tất cả mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ngoài đời, miền là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, từ xao động chuyển thành bình lặng, định tĩnh biết phá trừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ. Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đi khắp các chốn thôn dã, khuyên dân bỏ những hủ tục mê tín, thực hành giáo lý Thập thiện, nhằm xây dựng một mẫu người tốt, gia đình tốt, xã hội tốt, đất nước tốt, tràn đầy an vui hạnh phúc. Tư tưởng ấy đã lan toả toàn cõi Việt, trong đó có Hải Phòng chúng ta ngày nay được thừa hưởng những tinh hoa giá trị ấy.

- Với những thắng duyên ấy, người dân Hải Phòng nói chung và Tăng Ny Phật tử Hải Phòng nói riêng phải chung sức đồng lòng giữ gìn và phát huy làm sao cho thật xứng đáng: “Hải Phòng nơi dấu ấn lịch sử vàng son của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông” ngày càng rực sáng.

TTG

(1) Nguyễn Lang - Việt Nam Phật giáo sử luận - Nhà xuất bản Lá Bối - Paris. Tr.335

(2) Cư Trần Lạc Đạo phú - Lê Mạnh Thát, Sđd. Tr.400-418.

(3) Khuấy bồn: Quên gốc

(4) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Sđd, tr. 374

(5) Phạm Thế Dương, Sđd, tr. 49-58

(6) Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.208

Lễ phát động cuộc thi và tọa đàm “Nhà ở nông thôn”

Ngày 27/11/2018 tại trụ sở Hội Kiến trúc sư Việt Nam số 40 Tăng Bạt Hổ, TP Hà Nội; đã diễn ra lễ phát động cuộc thi và tọa đàm “Nhà ở nông thôn- từ truyền thống đến hiện đại”;

alt

Tham dự có lãnh đạo Trung ương Hội KTS Việt Nam; Hội KTS các tỉnh thành: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang; Nhà tài trợ tôn BlueScope Zacs; Các cơ quan báo chí truyền thông.Trang web vietkieuhp.com tham dự và thông tin.

alt

Các phương án thiết kế dự thi lựa chọn trong 4 hạng mục: Nhà ở miền Bắc; Nhà ở miền Trung; Nhà ở miền Tây Nam Bộ; Nhà ở miền Đông Nam Bộ. Hạn cuối cùng nhận bài dự thi vào ngày 30/3/2019.

alt

Bài dự thi gửi vào email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. ; trao giải vào tháng 5/2019. Sau lễ phát động cuộc thi “Nhà ở nông thôn” là tọa đàm “Nhà ở nông thôn- từ truyền thống đến hiện đại”. Hội nghị đã nghe các diễn giả: Gs, Ts, KTS Nguyễn Quốc Thông, KTS Nguyễn Luận, Ks Đỗ Hữu Nhật Quàng đăng đàn;

alt

Tọa đàm cũng nghe ý kiến phát biểu của các KTS đại diện cho Hội KTS các tỉnh thành: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang. Đây là hoạt động thiết thực ý nghĩa của Hội KTS Việt Nam cùng Hội KTS các tỉnh thành. Lễ phát động cuộc thi và tọa đàm “Nhà ở nông thôn” đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho người tham dự.

MT

Beaujolais Nouveau Lễ hội rượu vang "tươi" độc đáo

Vào ngày thứ 5, tuần lễ thứ 3 của tháng 11 hàng năm, tại vùng Beaujolais Nouveau nằm ở phía Đông nước Pháp lại diễn ra lễ hội vang tươi Beaujolais. Đây là một lễ hội truyền thống của một trong những vùng sản xuất rượu vang danh tiếng nhất của Pháp.

Vào đúng ngày này, người yêu vang khắp nơi trên thế giới háo hức chờ đón những chai rượu đầu tiên của mùa nho, được mang đến từ vùng Beaujolais Nouveau. Việc thưởng thức vang tươi Beaujolais trở thành niềm mong mỏi của tất cả các tín đồ đam mê loại thức uống nổi tiếng này.
Đây là một lễ hội lâu đời, nổi tiếng, được hưởng ứng ở tất cả các nước làm rượu vang, được những người yêu vang trên khắp thế giới chờ đón. Việc tổ chức lễ hội rượu vang đã mang lại những thành công tuyệt diệu.

Sự khác biệt của vang tươi

Vùng Beaujolais Nouveau nằm ở phía Đông nước Pháp, trải dài trên một diện tích 1.750 km2, ở đây có khoảng 4.000 hộ trồng nho sinh sống. Beaujolais Nouveau có khí hậu ôn hòa.
Do các cánh đồng nho được bảo vệ bởi các dãy núi bao quanh, nên tránh được những cơn gió lạnh và ẩm từ phía Tây thổi tới. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc trồng nho và sản xuất rượu vang.
Giống nho duy nhất được trồng ở Beaujolais Nouveau là nho Gamay đen, nhưng cho nước ép màu trắng. Một quá trình lên men đặc biệt gọi là “phương pháp Carbonic Maceration” được áp dụng trong việc sản xuất vang tươi Beaujolais Nouveau.
Quá trình này được gọi là lên men nguyên quả (để cả chùm nho, không nén, không vặt cuống, giúp cho vang có vị tươi ngon và ngăn không cho chất tannin tiết ra từ vỏ và cuống nho).
Cũng bởi sự nổi tiếng và phong trào lễ hội lan toả khắp hành tinh nên đã có khá nhiều điều nhận xét có thể đúng và cũng có thể sai về loại rượu vang “tươi” này mặc dù chưa được kiểm chứng.

Beaujolais Nouveau là một loại rượu vang duy nhất tại vùng Beaujolais

Vừa đúng và vừa sai! Đúng là vì dòng rượu vang này là độc nhất ở chỗ nó sở hữu những đặc trưng riêng trong hương vị và phong cách. Tuy nhiên khi nói về rượu vang vùng Beaujolais thì nó không là duy nhất.

Điều đầu tiên bạn cần biết là rượu vang tươi Beaujolais Nouveau được sản xuất theo phương pháp Carbonic Maceration, ngoài ra tại vùng Beaujolais vẫn có loại rượu vang khác theo phương pháp truyền thống “theo hệ thống xếp loại rượu vang Pháp – AOC/AOP”. Hệ thống phân loại bao gồm 10 Beaujolais Crus, 38 Beaujolais-Village và Beaujolais AOC.

Beaujolais Nouveau là dòng rượu vang được sản xuất theo dây chuyền công nghiệp

Sai! Beaujolais Nouveau và bao gồm tất cả các dòng rượu vang vùng Beaujolais khác đều được sản xuất thủ công. Và rất khó để sản xuất ra dòng rượu vang này. Những chùm nho khi tới mùa thu hoạch sẽ được hái bằng tay và vườn nho được trồng trên những diện tích tương đối nhỏ, trung bình khoảng 10 héc-ta.
Và theo quy định của UIVB, tất cả các loại rượu vang tươi Beaujolais Nouveau đều được xuất xưởng trong cùng một ngày Beaujolais Nouveau Day. Chính vì vậy đã khiến nhiều người lầm tưởng rằng chúng là loại rượu vang được sản xuất công nghiệp.

Tất cả rượu vang Beaujolais Nouveau đều có hương vị giống nhau

Sai! Sự hiện diện của hương vị chuối trong rượu vang Beaujolais khá dai dẳng. Tuy nhiên điều này chỉ đúng ở trong quá khứ. Khi một vài nhà làm rượu đã sử dụng kỹ thuật mang laị hương vị khá lạ thường cho rượu vang và khiến hầu hết rượu vang Nouveau có vị giống nhau.
Nhưng vào thời điểm hiện tại, mỗi nhà sản xuất rượu vang đều sử dụng các kỹ năng, kiến thức riêng biệt để tạo ra loại rượu vang trẻ mang dấu ấn của riêng mình tại vùng Beaujolais. Bởi vậy, bạn không thể khẳng định rằng vào niên vụ tiếp theo thì hương vị rượu vang Beaujolais vẫn giữ nguyên như vậy.
Mặc dù rượu vang Beaujolais Nouveau thể hiện hương vị đặc trưng của trái cây chín và nho khô, tuy nhiên cũng giống như những giống nho làm rượu vang khác. Hương vị rượu vang tại vùng Beaujolais cũng phản ánh sự thay đổi của đất và khí hậu theo mỗi niên vụ khác nhau.

Rượu vang Beaujolais Nouveau là rượu vang khai vị

Đúng nhưng không chỉ có vậy. Trên thực tế rượu vang Beaujolais Nouveau chủ yếu được sử dụng như loại rượu vang khai vị. Đặc biệt hơn khi chúng là ngôi sao của chương trình trong các quán rượu, nhà hàng, quán pub mang phong cách Pháp vào ngày thứ 5 của tuần thứ 3 trong tháng 11 và những ngày tiếp theo.
Nhưng, nếu bạn có ý tưởng về một bữa tiệc có rượu vang tươi Beaujolais Nouveau thì việc sử dụng chai vang này kết hợp cùng các món ăn chính khác như Pizza, thịt thỏ, thịt cừu và bò bít tết cũng sẽ là trải nghiệm ẩm thực khá thú vị.

Beaujolais Nouveau đã làm nổi danh cho rượu vang vùng Beaujolais

Có phần đúng! Sự thật là tại Beaujolais theo phong cách rượu vang truyền thống cũng có những dòng vang đẳng cấp Beaujolais Cru. Nhưng thứ thu hút được truyền thông và sự quan tâm của người yêu rượu vang nhất là vang tươi Beaujolais Nouveau. Tuy nhiên, không chỉ Beaujolais Nouveau gây được tiếng vang trên thị trường quốc tế mà còn có những chai vang hảo hạng khác như Morgon, Brouilly và Moulin-à-Vent cũng thể hiện khá tốt tại nước ngoài.

Beaujolais Nouveau phải được tiêu thụ hết ngay lập tức

Sai! Mặc dù rượu vang Beaujolais Nouveau là loại rượu vang tươi với nồng độ cồn và tanin thấp. Tuy nhiên dòng vang này sẽ không bị hỏng sau 3 hoặc 4 ngày hay thập chí sau 3 đến 4 tháng.
Dưới điều kiện bảo quản tiêu chuẩn, rượu vang Beaujolais Nouveau cũng có thể lưu trữ trong khoảng 8 đến 12 tháng ở nơi khô ráo, tránh sự tiếp xúc trực tiếp của ánh sáng và nhiệt độ như mọi loại rượu vang khác. Bởi vậy, bạn cũng có thể lưu trữ dòng vang này và sử dụng trong bữa tiệc khác ngoài ngày Beaujolais Nouveau Day để làm ngạc nhiên cho những khách mời của bạn.

VK

Trao đổi tìm hiểu về Hải Vân Quan

Hải Vân Quan giáp ranh giữa Huế và Đà Nẵng; đứng ở di tích Hải Vân Quan có độ cao 500 m so với mực nước biển, thấy toàn bộ TP Đà Nẵng uốn lượn dọc bờ biển, trông về Cù Lao Chàm, cảng Tiên Sa.

alt

Dừng chân dưới đường quốc lộ, leo bộ hơn 30 bậc tam cấp, sẽ gặp cổng thành với ba chữ Hải Vân Quan. Từ trên cao nhìn xuống, TP Đà Nẵng nhỏ lại, được bao quanh là biển cả mênh mông. Còn nếu xuất phát từ hướng Thừa Thiên- Huế, để đặt chân lên Hải Vân Quan phải trải qua ba đèo Phước Tượng, Phú Gia và Hải Vân. Mỗi sáng sớm hoặc chiều tối, toàn bộ khu vực này được bao phủ bởi lớp mây bồng bềnh bay lượn.

Ngay trên đỉnh đèo, những cửa đèo và thành lũy đắp ngang vẫn còn dấu vết. Cửa trông về phủ Thừa Thiên có ba chữ “Hải Vân Quan”. Cửa trông xuống Quảng Nam có dòng chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" đây là những dòng chữ do vua Lê Thánh Tông đề tặng khi dừng chân ngắm cảnh nơi này. Trải qua bao năm thăng trầm của lịch sử, những bức tường của thành lũy được bao phủ bởi những lớp rêu xanh.

alt

Hải Vân Quan là điểm du lịch thu hút du khách trong và ngoài nước. Đến đây, ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng, các nghệ sĩ nhiếp ảnh có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc tuyệt đẹp về thiên nhiên với những làn mây bay lượn mỗi khi hoàng hôn buông xuống.

MT

Chiêm bái Chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, xã Hương Long, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở Huế.

alt

Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa tọa lạc ngày nay và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Khi nói xong, bà biến mất. Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự. Năm 1601, chùa được xây dựng. Vào thời Nguyễn, các vua đều cho trùng tu chùa.

Tháp Phước Duyên được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp có 7 tầng hình bát giác cao 21m. Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa. Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch. Năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm. Chùa Thiên Mụ luôn thu hút đông đảo du khách tới chiêm bái khi vào đến Huế.

MT

Tham quan lăng vua Minh Mạng

Lăng vua Minh Mạng còn gọi là Hiếu Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, cách cố đô Huế 12 km. Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành.

alt

Tháng 2/1820, vua Gia Long qua đời, hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm lên ngai vàng, lấy niên hiệu là Minh Mạng. Làm vua được 7 năm, Minh Mạng cho người đi tìm đất để xây dựng Sơn lăng cho mình.

alt

Minh Mạng lâm bệnh qua đời vào tháng 1/1841; Vua Thiệu Trị lên nối ngôi, tháng 2/1841 vua sai các quan đại thần chỉ huy 10 nghìn lính và thợ thi công tiếp theo thiết kế của vua cha để lại. Đầu năm 1843 lăng hoàn tất;

alt

Lăng Minh Mạng có bố cục đối xứng, trục kiến trúc là đường thần đạo, xuyên qua một loạt các hạng mục công trình gồm: cửa chính, sân chầu, nhà bia, sân tế, Hiển Đức môn, điện Sùng Ân, hồ Trừng Minh, Minh Lâu, hồ Tân Nguyệt, cổng tam quan Quang Minh Chính Trực, Trung Đạo kiều và cuối cùng là Bửu thành đặt mộ vua Minh Mạng.

alt

Lăng có diện tích 18 ha, xung quanh lăng có La thành bao bọc làm cho toàn bộ quần thể lăng vua Minh Mạng uy nghiêm nhưng vẫn hài hòa với thiên nhiên và duyên dáng tráng lệ.

MT

Trao đổi tìm hiểu về lăng vua Khải Định

Lăng vua Khải Định hay Ứng Lăng thuộc làng Châu Chữ, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

alt

Vua Khải Định (1885- 1925) là con trai trưởng của Vua Đồng Khánh, mẹ là Hựu Thiên Thuần Hoàng Hậu. Ông lên ngôi vào ngày 18/5/1916, là vị vua thứ 12 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ông ở ngôi được 10 năm thì lâm trọng bệnh và mất ngày 20/9 năm Ất Sửu tức ngày 6/11/1925 an táng tại Ứng Lăng.

alt

Lăng Khải Định bắt đầu xây dựng vào ngày 4/9/1920 và mất 11 năm để hoàn thành. Lăng Khải Định lại có diện tích 117m x 48.5m. Để xây lăng, Khải Định mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise… ở Pháp và ông cho thuyền sang Trung Quốc, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu.

alt

Về tổng thể, lăng Khải Định có hình một khối chữ nhật vươn lên cao 127 bậc cấp, với nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique trong các cụm công trình cụ thể: Những trụ cổng hình tháp- ảnh hưởng từ Ấn Độ giáo; Trụ biểu dạng stoupa- của Phật giáo;

alt

Hàng rào như những cây thánh giá; Nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể. Đây cũng là kết quả của sự giao thoa văn hóa Đông- Tây trong buổi giao thời lịch sử và cá tính của Vua Khải Định.

MT

Tham quan Hoàng Thành Huế

Hoàng Thành Huế được xây dựng từ năm 1804 đến năm 1833 đời vua Minh Mạng thì hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình.

alt

Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600 mét, xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hào bảo vệ, có 4 cửa để ra vào: Cửa chính phía Nam là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Đoàn KTS đã tham quan: Điện Thái Hòa, Triệu Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu,  Cung Trường Sanh, Cung Diên Thọ, Khu vực Tử Cấm Thành;

alt

Tham quan Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng đặt ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu, phía tây nam Hoàng thành Huế, tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị hoàng đế của triều Nguyễn, có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.

Nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành và tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo cùng các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm.

MT

Hành trình về xứ Huế

Ngày 16/11/2018 chuyến máy bay VJ 723 cất cánh từ sân bay Cát Bi- Hải Phòng lúc 6h45p đưa đoàn Hải Phòng đến sân bay Đà Nẵng lúc 7h45p. Chúng tôi lên ôtô 16 chỗ tiếp tục hành trình từ TP Đà Nẵng vượt qua đèo Hải Vân đến cố đô Huế lúc 10h30p. BTC bố trí cho đoàn Hải Phòng nghỉ ở khách sạn 5 sao Imperial số 8 đường Hùng Vương, TP Huế.

alt

Huế là đô thị cấp quốc gia của Việt Nam và từng là kinh đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn (1802 - 1945). Hiện nay, thành phố là trung tâm về nhiều mặt của miền Trung như văn hoá, chính trị, y tế, giáo dục, du lịch, khoa học... Những địa danh nổi bật là sông Hương và những di sản để lại của triều đại phong kiến, Thành phố có năm danh hiệu UNESCO ở Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế (1993), Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản triều Nguyễn (2014) và Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016). Huế là một trong 3 đô thị lớn nhất Bắc Trung Bộ (cùng với Thành phố Thanh Hóa, Thành phố Vinh) và là một trong những đô thị lớn nhất Việt Nam.

MT

Thiền sư Thích Nhất Hạnh và xứ Huế

Thiền sư Thích Nhất Hạnh sinh năm 1926 tại Thừa Thiên Huế, là nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động xã hội và là nhà sư nổi tiếng của Phật giáo thế giới.

alt

Với những hoạt động không ngừng nghỉ, thiền sư Thích Nhất Hạnh trở thành nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây, chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma, theo đánh giá của các hãng tin nước ngoài.

Ngày 26/10/2018, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã từ Làng Mai ở Bangkok, Thái Lan về Đà Nẵng. Đến ngày 28/10/2018, thiền sư về đến chùa Từ Hiếu trong sự chào đón của tăng ni, phật tử ở Huế. Khi về đến chùa, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã vào lễ Phật, lễ Tổ tại chánh điện của chùa, rồi lên nghỉ ngơi tại khu phòng mà Thiền sư đã từng ở lúc mới xuất gia vào tu tại chùa.

Sức khỏe của thiền sư Thích Nhật Hạnh khá tốt, một Ban Thị giả được chùa thành lập để chăm lo việc ăn uống, sinh hoạt hàng ngày của thiền sư. Thiền sư Thích Nhất Hạnh chọn Từ Hiếu là nơi tịnh dưỡng lúc cuối đời bởi đây là ngôi chùa mà thuở thiếu thời thiền sư đã xuất gia học đạo giống như lá rụng về cội vậy.

MT

Trao đổi tìm hiểu về danh tướng Trần Nhật Duật

Trần Nhật Duật (1255- 1330) là hoàng tử thứ 6 của vua Trần Thái Tông, lúc mới sinh, trên tay ông có bốn chữ “Chiêu Văn đồng tử”, nên vua phong cho ông là Chiêu Văn Vương.

alt

Trần Nhật Duật là người hiểu biết rộng, thông thạo nhiều ngoại ngữ. Năm 1280, tù trưởng vùng Đà Giang là Trịnh Giác Mật nổi lên chống triều đình, cùng lúc nhà Nguyên đang chuẩn bị quân tấn công Đại Việt. Trần Nhật Duật chỉ mang theo mấy tiểu đồng đến gặp Giác Mật. Giữa trang trại Giác Mật, ông ăn nói đúng phong tục Đà Giang khiến Giác Mật tâm phục khẩu phục qui hàng theo triều đình. Trần Nhật Duật không cần đánh mà thu phục được cả vùng Đà Giang, khiến biên giới phía Tây Bắc được yên ổn, giúp nhà Trần tập trung lo chuẩn bị đối phó với quân Nguyên.

Nhà Nguyên cử sứ giả đến, Trần Nhật Duật tiếp sứ thần nhà Nguyên bằng tiếng Hán vui vẻ tự nhiên cả ngày. Khi Mông Cổ đánh bại nhà Tống, nhiều tôn thất của nhà Tống chạy sang Đại Việt. Trần Nhật Duật được các tướng lĩnh nhà Tống mến mộ, ông chỉ huy một đội binh mã nhà Tống, lập được nhiều chiến công trong cuộc chiến chống quân Nguyên.

Năm 1314, Trần Nhật Duật làm Tể tướng nước Đại Việt, ngoài việc tề gia trị quốc, ông rất quan tâm đến văn hóa, văn nghệ dân tộc. Năm 1330 đời Trần Hiến Tông, Chiêu Văn Đại vương Nhật Duật qua đời, hưởng thọ 75 tuổi. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với giai đoạn vinh quang nhất của nhà Trần. Tài năng, đức độ, sự nghiêm minh ngay thẳng của ông cũng như các tướng văn, võ trong thân tộc nhà Trần cùng thế hệ với ông như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải góp phần vào sự tồn tại và hưng thịnh nước Đại Việt thời nhà Trần.

MT

Phó giáo sư người Nhật Bản tặng bức thư cổ cho Bảo tàng Hà Tĩnh

PGS.TS Hasuda Takashi - Nghiên cứu viên Hội Chấn hưng Nhật Bản, Đại học Osaka đã tặng phiên bản bức thư cổ bằng chữ Hán thế kỷ XVII cho Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh do Văn Lý hầu Trần Tịnh (quê ở xã Kim Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) chấp bút.

alt

Trần Tịnh làm quan trải qua nhiều chức như: Trung hưng Hiệp mưu Tá lý công thần, Tổng thái giám Thượng giám sự Chưởng cung môn thừa chế sự và các tước Văn Lý tử, Văn Lý bá và Văn Lý hầu.

Theo đánh giá của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, ông là người: “Có tước vị tôn quý, nhưng rất khiêm nhường; lộc càng nhiều, thì sống lại càng cần kiệm. Với bề trên thì luôn là hiền nhân, với bạn đồng liêu thì nhường người tài giỏi. Các tướng sĩ trong doanh cơ đều ngợi ca danh tiếng ông”.

Bức thư cổ có nội dung liên quan đến quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trên sông Lam, dọc từ thương cảng cổ Hội Thống đến phố cổ Phù Thạch lúc Trần Tịnh đang làm chức quan Đô đường, nha môn đóng ở xã Hoa Viên, huyện Hưng Nguyên, xứ Nghệ An. Ông là người trực tiếp cấp phép cho các tàu buôn Nhật Bản tự do đi lại, buôn bán tại khu vực này.

Bức thư đã ghi lại sự kiện một tàu buôn Nhật Bản đến Nghệ An buôn bán ở khu vực sông Lam, chất đầy người và hàng khi đi qua cửa biển Đan Nhai (Hội Thống) về Nhật Bản thì bị đắm vào tháng 6 năm 1610. Sóng to gió lớn đã làm 6 người trên tàu bị chết, cứu được 105 người, trong số đó Trần Tịnh cưu mang 29 người. Một người phụ nữ Nhật Bản được cứu vớt, ông nhận làm con nuôi và mang họ Trần của ông. Sau đó, ông gả cho một người trong dòng họ Nguyễn Huy – Trường Lưu là Hình bộ Lang trung Nguyễn Như Thạch (1579 -1662).

Sau khi cứu được 105 người Nhật Bản, Trần Tịnh trình sự việc lên chúa Trịnh và được chúa Trịnh cho đóng thuyền đưa họ đi về Nhật Bản.

Bức thư được gửi tới Quốc vương Nhật Bản, dịch ra tiếng Việt như sau:

“Hiệp mưu tán lý công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Tổng thái giám, Chưởng (thượng) cung môn thừa chế sự Văn Lý hầu nước An Nam chuyển thư đến ngài Thị trưởng thương nhân Nhật Bản là Bích Sơn bá. Khi về bản quốc được biết ngày nọ tháng 6 năm trước, việc buôn bán trao đổi tiền tệ với An Nam đã xong xuôi. Nay về đến cửa Đan Nhai ở ngoài biển thì bỗng nhiên bị sóng nổi lên đánh cho tan tác, khiến 105 người ở bản xứ phải sống trôi nổi.

Ngài đô đường quan, Quận công, Chưởng giám Văn Lý hầu và Phò mã Quảng thường hầu có ý làm việc công đức, thương xót thương nhân ở viễn quốc, thương tình họ đói khát nên đã lấy gia sản cấp dưỡng nuôi sống toàn bộ số người trên tàu. Rồi lại cho điều họ đến kinh để bái kiến chúa thượng. Chúa thượng rộng đức có lòng từ tâm nên ban sắc chỉ lệnh cho bọn họ được trở về bản quốc, ý đó thật là may mắn vậy. Nay các quan đô đường cùng chấp thuận cho làm thuyền lớn một chiếc rồi lại ban cho chức tước trở về bản quốc để bày tỏ cái nghĩa tình được hưởng tiếng thơm để cho toàn vẹn cái ân đức. Vì vậy, nay chuyển thư đến.

Hoằng Định, năm thứ 11 tháng 2 ngày 25 (tức ngày 25 tháng 2 năm 1611 đời vua Lê Kính Tông)”.

Qua bức thư cổ cũng cho ta biết, Văn Lý hầu Trần Tịnh là một hoạn quan làm đến chức Tổng thái giám phụ trách ngoại thương với người nước ngoài trong đó có Nhật Bản.

Bức thư cũng đã khẳng định và cho thấy tình thương người rộng lớn của các vị quan lại trong đó có Trần Tịnh và chúa Trịnh đầu thế kỷ XVII đã thúc đẩy họ không quản khó khăn, ngần ngại ra tay giúp đỡ những người gặp nạn, bất kể đó là người quốc gia nào. Từ đó, làm tăng uy tín quốc gia, tạo ra sức lan tỏa rộng lớn đến các nước làm ăn buôn bán với Việt Nam.

HT

Các bài viết khác...

Video

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay124
mod_vvisit_counterHôm qua371
mod_vvisit_counterTất cả198733
Hiện có 53 khách Trực tuyến